Mẹo nhỏ: Để tìm kiếm chính xác các sản phẩm của BangGiaOnline.Com, hãy search trên Google với cú pháp: "Từ khóa" + "Banggiaonline". (Ví dụ: giá xe Rolls Royce mới banggiaonline). Thử xem kết quả
40 lượt xem

Top 10 Bài văn phân tích bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” của Tản Đà hay nhất

Sau hơn mười năm của thập kỷ đầu thế kỷ XX bước vào thời kỳ hiện đại hóa với những tác phẩm yêu nước nổi tiếng của Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu,… văn học nước ta bước vào thời kỳ chuyển mình vô cùng sôi động. cử động. Từ những năm 20 trở lại đây, trên diễn đàn văn học xuất hiện những cây bút mạnh dạn đổi mới cả nội dung và hình thức văn học. Họ kết hợp những nét đẹp của truyền thống với yêu cầu đổi mới của thời đại, sáng tác nên những tác phẩm thơ đặc sắc mang đậm hơi thở của một lớp người giàu hoài bão, yêu nước, yêu đời nhưng bế tắc. ..

Một trong những người mở đầu cho dòng văn học này là thi sĩ Tản Đà. Tản Đà đã sáng tác nhiều tác phẩm mà chỉ cần đọc tên chúng ta cũng thấy được sự độc đáo, đầy mộng mơ và lãng mạn: Tình con khối I, II, III, Giấc mộng lớn, Giấc mộng nhỏ, … Trong tập thơ Khối Yêu Nhi có bài thơ Muốn làm chú Cuội được nhiều người đánh giá là đặc sắc nhất. Đúng rồi. Qua nhan đề tác phẩm và vài phút đọc – hiểu ban đầu, chúng ta đã cảm nhận được vẻ đẹp độc đáo của bài thơ.

Đây là một điều ước kỳ quặc, phi thường hay nó là một giấc mơ lãng mạn, hỗn xược, kỳ lạ? Muốn làm chú Cuội nghĩa là muốn bay lên cung trăng, muốn thoát khỏi kiếp trần gian để về sống với trăng, sao, thần tiên? Tại sao nhà thơ lại có mong muốn như vậy? Điều ước đó có ý nghĩa gì? … Rất nhiều câu hỏi hay và thú vị thu hút chúng tôi.

Cũng là một bài thơ bảy chữ tám theo luật thơ Đường, cũng viết bằng chữ Nôm, nhưng so với nhiều bài thơ Nôm của thời kỳ văn học trung đại và hai bài thơ xuất bản trước đó vài năm của Phan Châu Trinh, Phan. Bội Châu, Nhưng hồn thơ, giọng văn, lời nói của Muốn làm Cuội có nhiều nét khác lạ.

Bài thơ có giọng điệu nhẹ nhàng, tao nhã pha chút tình yêu hóm hỉnh, mang nét phóng khoáng, kiêu sa của một hồn thơ lãng mạn, thoát tục. Hai câu thơ đầu (ở đề) là tiếng than thở buồn, chán chường của một thi nhân, một người trần thế:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!

Bây giờ tôi đang chán một nửa trên thế giới này,

Nét độc đáo là hai đại từ nhân xưng “chị” và “em” nghe rất duyên dáng. Nhân hóa trăng, rồi nữ hóa trăng, được gọi bằng cái tên Hằng (theo cách nói của nhiều thi nhân xưa – Hằng Nga – A Hằng), kèm theo đại từ “chị”, tự xưng là “em”, nhà thơ tạo ra một sự bất ngờ. , mối quan hệ thân tình nhưng mộc mạc, mối quan hệ đúng nghĩa để tâm sự, sẻ chia tâm tình. Tình cảm của nhà thơ được bộc lộ trực tiếp qua hai từ bộc lộ nỗi buồn, sự chán chường.

Buồn trong đêm thu là tâm trạng quen thuộc của người nghệ sĩ xưa. Bởi lẽ, mùa thu đến mang theo làn gió thu se lạnh, gió thu nhè nhẹ, mùa thu cây cối héo úa chờ ngày tàn, … Biết bao thi nhân dân tộc từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Du, từ Hồ Xuân Hương đến Bà Huyện. Thanh Quan, rồi Nguyễn Khuyến, Tú Xương,… đã thấm cái buồn của mùa thu để rồi thấm ướt dòng thơ.

Là một thi sĩ tài hoa, nhạy cảm, trước mùa thu, Tản Đà hẳn đã thấm hồn đất trời, cây cối héo úa và những dòng văn, thi nhân buồn. Đó là một nỗi buồn lãng mạn, nhẹ nhàng, bâng khuâng, như không cần lý do, nó là nhân duyên. Và tâm trạng “chán một nửa” không còn là chuyện tình cảm vô cớ kiểu nghệ sĩ nữa. Đó là sự chán chường trần thế của một tâm hồn từng lo lắng cho đất nước và nhân dân trong cảnh nô lệ đói khổ.

Đêm thu … buồn, cùng trần gian … buồn chán, cảnh thiên nhiên đất trời cộng với cuộc đời tăm tối, lầm than đã khiến nhà thơ xót xa, tìm người sẻ chia. Có lẽ tôi vẫn chưa tìm được ai xứng đáng với mình nên tôi dành thời gian của mình để nhìn lên mây, trời, trăng và sao. Trong bầu trời đêm bao la, có lẽ còn trông trăng như tri kỷ. Bởi vì mặt trăng sáng, tròn, tốt bụng, vô tư, không lời, và đầy nhục cảm.

Nói đúng hơn, bằng con mắt nhạy cảm và trái tim giàu tình cảm của mình, thi sĩ Tản Đà đã nhìn thấy trong trăng hình ảnh một mỹ nhân có thể làm tri kỉ. Nhà thơ gọi trăng là “chị” – “chị Hằng”, tôn người đối thoại là “chị”, tự nhận mình là “em” rất tài tình, khéo léo trong ứng xử (nếu “chị Hằng” là thật) và khéo léo trong hành động. dẫn thơ.

Xuất hiện sau hai dòng kết cấu như lời cầu khẩn, lời than thở là lời cầu chúc chân thành, tha thiết khiến người nghe, người thân tín không thể chối từ và người đọc bài thơ cũng không khỏi chạnh lòng. Lên đến bốn câu thực và bài luận, điều ước và cầu xin trở thành một giấc mơ độc nhất vô nhị:

Cunq quế có ai ngồi đó có bầu ko?

Xin vui lòng chơi cành cao nhất của cô ấy.

Mang thai, có những người bạn để cảm thấy tiếc nuối,

Cùng gió, cùng mây, thật vui.

Về quy luật bố cục và đối xứng, bốn câu trên đã phạm luật, không khớp với nội dung của hai câu thực (tả thực) và hai câu nghị luận (suy luận, mở rộng), mỗi cặp câu cũng không đúng. nhau về từ và nghĩa. Nhưng đọc lên ta vẫn thấy ngôn ngữ lưu loát, ý nghĩa bao quát, hồn thơ phát triển tự nhiên, được gắn kết hài hoà ở hai câu mở đầu, Đây là những dòng cải biên Đường luật buông thả tình tứ. . cái tôi ”nhà thơ đang bay bổng, tự nhiên.

Bốn dòng của bài thơ thể hiện tiếng nói ước nguyện và linh cảm thật độc đáo. Câu đầu tiên thăm dò “Ai đã ngồi đó có thai?”. Câu thứ hai, không đợi hồi âm, liền đề nghị và mạnh dạn năn nỉ: “Cây đa hãy nhắc em chơi”. Những hình ảnh “cung quế”, “cành chuối”, “người ngồi chơi vơi” gợi nhiều huyền thoại về “cung Quang Hàn” (cung trăng), về “cây đa, chú Cuội” mà nhiều người Việt Nam biết đến. .

Đó không phải là nơi ở của con người mà là những địa chỉ siêu nhiên, những con người siêu phàm trong trí tưởng tượng, trong những giấc mơ. Phải chăng, khi cất lên những vần thơ ấy, thi sĩ Tản Đà đang ru hồn mình vào giấc mộng! Tôi có cảm giác chú ngày càng nhỏ bé, bé bỏng, nhỏ xíu như nhân vật chú Cuội ngày xưa bám vào “cành đa” để bay lên, bay lên cung trăng rồi từ từ hạ xuống, ngồi dưới gốc cây đa, bên cạnh chú Cuội. . Sau đó là một khung cảnh, một bức tranh thú vị:

Mang thai, có những người bạn để cảm thấy tiếc nuối,

Cùng gió, cùng mây, thật vui.

Nhà thơ đến đích, gặp chị Hằng, chú Cuội, làm bạn với mây gió. Hai cụm từ “can chi me” và “đó là con đường hạnh phúc” thể hiện rõ tâm trạng mãn nguyện, quên đi mọi buồn phiền trên đời để tìm niềm vui trong thế giới thần tiên. Giọng điệu như ngân lên một chút hóm hỉnh, cười sảng khoái, chào đón nhưng rất tình cảm.

Có thể nói, tâm hồn lãng mạn của nhà thơ đã tìm được nơi trốn chạy lý tưởng. Lên trăng ẩn mây, gió thổi nghĩa là Tản Đà đã hoàn toàn tránh xa cuộc sống “tẻ nhạt”, tránh xa “thế gian dơ bẩn”. Nhưng tâm nguyện của Tản Đà hoàn toàn không phải là trốn chạy, lánh xa.

Đó là những ước mơ, những khát vọng chân chính của một con người luôn gắn bó với xê dịch, luôn mong muốn cuộc đời mình nói chung và cuộc đời mình nói riêng có được niềm vui, hạnh phúc, được gặp gỡ những người bạn tốt bụng. , yêu thật lòng. Nhà thơ từng than thở:

Xung quanh những tảng đá và cây cối,

Biết tìm bạn tâm giao ở đâu.

Và đã từng mơ:

Kiếp sau, xin đừng làm người.

Làm cho một đôi én bay trên bầu trời.

Với ước nguyện Muốn được làm Cuội, nguyện vọng chính đáng đó vấp phải ước mơ của một linh hồn đa tình, trở thành một cách nói có phần kiêu căng, ngạo mạn, lãng mạn. Chán đời, buồn mùa thu, nay được kết bạn với nàng Hằng Nga xinh đẹp, vui cùng mây gió thì còn gì thích thú hơn nữa mà sao vẫn cô đơn, buồn tủi! Cảm hứng lãng mạn của Tản Đà mang đậm dấu ấn thời đại và tiến xa hơn cả những gì người xưa đang có. Dấu ấn thời đại và tầm xa trong thơ Tản Đà được đẩy thêm một bậc, thật bất ngờ trong hai câu kết của bài thơ:

Sau đó, mỗi rằm tháng tám,

Cúi xuống nhìn xuống thế gian cười.

Vào một đêm trung thu trăng sáng, người ta ngẩng đầu ngắm trăng sao, trân trọng bầu trời, nhưng nhà thơ lại ngồi mãi trên cung trăng tựa vào vai Hằng Nga xinh đẹp nhìn xuống, trầm trồ. thế giới, và sau đó … cười. Tại sao nhà thơ cười? Có thể vì đã đạt được ước mơ, mong muốn thoát ly, rời xa thế tục trần tục nên mãn nguyện, mỉm cười. Cũng có thể vì ở vị trí cao, hơn hết là những thói đời nhỏ nhen, thấp hèn nên nhà thơ thấy rõ những điều xấu xa, bẩn thỉu, đáng cười, đáng khinh của thế giới nhỏ bé, chật hẹp.

Cũng có thể đầy ắp tiếng cười tự ti, tủi thân… chơi dại, qua đời, khác kiếp. Một từ cười mà mở ra hai hoặc ba nghĩa, thật thú vị. Phải chăng hai câu thơ kết thúc, nhất là chữ cuối bài (“cười”), là đỉnh cao của hồn thơ lãng mạn, phong cách phóng khoáng, ngông nghênh nhưng rất đa tình, đa tình của Tản Đà.

Tóm lại, bài Muốn làm thằng Cuội là tâm sự của một người đang trầm luân với cái xã hội tầm thường, xấu xa, muốn thoát ra bằng giấc mơ được lên cung trăng làm bạn với Hằng, vui vẻ trên mây. Đó là một giấc mơ tuyệt vời, đáng chào đón, lãng mạn. Sức hấp dẫn của bài thơ là vẻ đẹp mộng mơ ấy thể hiện qua ngôn từ, hình ảnh đậm chất dân tộc, ở những tìm tòi đổi mới của Tản Đà về thể thơ Đường luật.

Nhờ những đổi mới trong nghiên cứu thơ ca và nghệ thuật, thi sĩ Tản Đà đã góp phần mở ra một thời kỳ đổi mới sôi nổi, hào hứng cho lịch sử thơ ca hiện đại Việt Nam, nói như nhà nghiên cứu Hoài Thanh. nhận xét: “Anh ấy chia sẻ với chúng tôi một khát khao thiết tha, khát khao thoát ra khỏi sự tù túng, giả dối, sự khô khan của khuôn sáo … Anh ấy đã chơi những bản piano mở đầu cho một buổi hòa nhạc tân đương đại sắp tới …”.


Source: Banggiaonline.com
Category: Văn Học

Đánh giá:

Thông báo chính thức: Bảng Giá Online hiện tại đang triển khai chương trình đặt HOTLINE tại các sản phẩm trên trang website của chúng tôi dành cho các đại lý đang kinh doanh sản phẩm này. Mọi thông tin chi tiết quý khách vui lòng liên hệ qua: HOTLINE: 0917 51 20 21 hoặc ZALO chính thức.

Chúng tôi rất vui lòng được hợp tác với quý vị! Xin cám ơn!

Bài viết mới cập nhật:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *